KHỔ CHẾ – MỘT LỄ TẾ TÌNH YÊU
Là một nữ tu Mến Thánh Giá, khi chiêm ngắm linh đạo của Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, tôi dần nhận ra rằng khổ chế không đơn thuần là những hình thức hãm mình khắc nghiệt, nhưng прежде hết là một “lễ tế tình yêu” phát xuất từ con tim khao khát kết hiệp với Đức Kitô.
Đối với Đấng Sáng Lập, mỗi hy sinh là một nốt nhạc trong bản anh hùng ca của sự vâng phục và dâng hiến. Ngài không tìm kiếm đau khổ như một mục đích tự thân, nhưng coi đó là phương thế để chạm đến trái tim của Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh. Chính cái nhìn thiêng liêng ấy đã biến những vất vả bên ngoài thành niềm vui nội tâm của người môn đệ được thông phần vào công trình cứu chuộc. Nơi Đức Cha Lambert, khổ chế mang tính tự nguyện và có chiều sâu nội tâm, nhằm hiệp thông với Thập Giá Đức Kitô qua những đau đớn thể xác và tâm tình vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Động lực sâu xa của đời sống ấy chính là tình yêu dành riêng cho Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh – một tình yêu đủ mạnh để thúc đẩy con tim bước vào con đường hy sinh tự hiến.
Vì thế, khi chọn Đức Giêsu Chịu-Đóng-Đinh làm trung tâm đời mình, Đức Cha khao khát gắn chặt cuộc đời với Người bằng một tình yêu cụ thể và triệt để: sẵn sàng dâng hiến, trao phó và hiến trọn bản thân để Chúa sử dụng theo ý muốn của Người, hầu tiếp nối sự hy sinh cứu độ của Đức Kitô. Đức Cha ý thức mình đang sống trong linh đạo của Thánh Phaolô: “Tôi hoàn tất nơi thân xác tôi những gì còn thiếu trong cuộc gian truân của Đức Kitô vì thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24).
Điều “còn thiếu” không phải là sự bất toàn nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô, nhưng là sự thiếu vắng của lòng tự nguyện hiệp thông nơi các chi thể. Đó là sự thiếu vắng của một ý chí sẵn sàng kết hiệp những đau khổ cá nhân với đau khổ của Chúa, để cùng Người và trong Người tham dự vào công trình cứu độ.
Vì thế, Đức Cha nhấn mạnh đến thái độ sẵn sàng để Chúa Giêsu tự do sử dụng thân xác và cuộc đời người môn đệ. Không phải chúng ta tự chọn lấy những đau khổ theo ý riêng, nhưng là sẵn sàng trao hiến chính bản thân – với khả năng chịu đựng và hiến dâng – để Chúa tiếp tục sứ mạng cứu độ nơi mình. Theo ngài: “Mọi người đều có bổn phận biết ơn Chúa Cứu Thế… không ai bị loại trừ, miễn là họ khao khát uống chén đắng của Con Thiên Chúa.” Trong kinh nghiệm thiêng liêng, Đức Cha nhiều lần được thúc đẩy thực hành những việc hãm mình đền tội, những hy sinh phi thường, để cầu xin Chúa “tiếp nối nơi ngài cuộc đời đau khổ của Người”. Ngài xác tín rằng: Con Thiên Chúa tiếp tục cuộc khổ nạn của Người qua những tâm hồn sẵn sàng hiến thân.
Theo linh đạo này, khổ chế bổ túc điều còn thiếu nơi hy tế bàn thờ: đó là sự đau khổ được kết hiệp cách sống động với Đức Kitô. Những đau khổ mà các chi thể Hội Thánh chịu, khi được dâng hiến trong đức tin, trở thành phần tham dự vào nỗi gian truân cứu độ của Người. Đức Cha xác tín rằng: chính Đức Kitô sử dụng người tông đồ để tiếp nối công trình cứu chuộc bằng đời sống đức tin, hãm mình, đền tội và hy sinh cho việc loan báo Tin Mừng. Con đường ấy luôn bao hàm gian nan thử thách, nhưng cũng chính là con đường đem lại hiệu năng thiêng liêng cho sứ vụ. Ngài từng cảm nghiệm: “Thiên Chúa thường gắn liền sự hoán cải của nhiều người với những hy sinh, kinh nguyện và bác ái phi thường của thừa tác viên.”
Chính vì thế, Đức Cha đề nghị thực hành hằng ngày tâm thế hiến dâng qua “hy tế ban chiều”, kết hiệp với hy tế Thánh lễ ban sáng. Đời sống khổ chế của ngài không mang tính hình thức, nhưng là một cách thế liên lỉ kết hiệp với Thập Giá. Theo Đức Cha, điều còn thiếu nơi Đức Kitô chính là sự hiệp nhất giữa khổ đau của Người với khổ đau của chúng ta. Không thể bắt chước Chúa nếu không để cho động lực yêu thương và tự hiến của Người trở thành động lực của chính mình. Là một Thừa Sai Tông Tòa, Đức Cha ý thức sâu xa số phận của người môn đệ. Ngài hạnh phúc khi được trở nên “một lễ vật hiến dâng”, sẵn sàng tan biến trong tình yêu để hiệp cùng hy tế của Con Thiên Chúa. Ý thức ấy giúp ngài luôn khuôn mình theo thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Tóm lại, linh đạo khổ chế của Đức Cha Pierre Lambert không chỉ thuộc về quá khứ, nhưng đang chảy trong huyết quản của mỗi người nữ tu Mến Thánh Giá hôm nay. Khi ý thức mình là “cánh tay nối dài” của Đức Kitô chịu đóng đinh, chúng ta tìm thấy ý nghĩa cao cả trong từng thử thách của đời tận hiến.
Hành trình “tan biến” mỗi ngày không phải là mất mát, nhưng là cuộc hiển linh của tình yêu tự hiến. Với tâm tình của một người con Mến Thánh Giá, tôi khao khát được khuôn mình trong đặc sủng Hội Dòng, giữ trọn tâm thế sẵn sàng để cuộc đời trở thành một “hy tế ban chiều” dâng tiến Chúa. Xin cho từng bước chân tôi đi, từng lời tôi nói, từng việc tôi làm đều thấm đượm tình mến, để cùng với Hy tế của Đức Kitô mang lại niềm hy vọng và ơn cứu độ cho thế giới giữa những gian truân của thời đại hôm nay.
Trần Thảo

